Chuyến đi bất ngờ đến Móng Cái

avatar của Huyền TrầnPosted by

Chưa bao giờ tôi cho Móng Cái vào wishlist du lịch, cũng chẳng bao giờ nghĩ nếu đi Trung Quốc thì nơi đầu tiên đến là… Đông Hưng. Thế nhưng tất cả đều gộp chung lại một thể với nhau trong một chuyến đi công tác cuối tháng 4 – lại còn đi hẳn 1 tuần.

Khi tôi rảnh rang chơi long nhong, không ai bảo tôi đi công tác cả, hoặc có nhưng tôi bảo chán lắm em không thích, thế là mọi người cũng thôi. Giờ tôi vừa không rảnh, vừa không thích, nhưng tôi lại chẳng được say no nữa.

Chuyến bay từ Sài Gòn hạ cánh ở sân bay Vân Đồn. Từ đây, mất thêm 2 tiếng nữa để đến Móng Cái – cao tốc một đường thẳng nên khung cảnh khá là nhàm chán, cộng thêm thời tiết mù mịt khiến mình cũng không có tâm trạng ngắm nghía gì nhiều.

Xe chở đoàn thằng về khách sạn Majestic Móng Cái – khách sạn cao nhất của cả thành phố này, nằm cách cửa khẩu Quốc tế Móng Cái khoảng hơn 100m. Từ cửa sổ phòng khách sạn mình có thể nhìn sang tận nhà láng giềng Trung Quốc, ở bển đúng là sầm uất đông đúc hơn bên mình nhiều. Nhưng mà chuyến đi Đông Hưng mình sẽ kể ở phần sau, đoạn này mời các bạn khám phá thành phố Móng Cái với mình nha.

Nhắc đến Móng Cái thì nổi tiếng nhất là mũi Sa Vĩ – nơi đặt nét bút đầu tiên vẽ bản đồ hình chữ S Việt Nam – chính là cái bản đồ chúng ta đã vẽ hàng trăm lần khi học môn Địa lý cấp 3. À, ý là tôi đã vẽ hàng trăm lần vì tôi học chuyên Văn khối C, còn bây giờ không biết các bạn nhỏ có vẽ nữa không?

Mũi Sa Vĩ (còn có tên gọi khác là Mũi Gót), thuộc TP Móng Cái. Người dân địa phương giải thích “sa” nghĩa là cát, “vĩ” có nghĩa là đuôi, Sa Vĩ còn gọi là đuôi cát. Gọi tên Sa Vĩ là vì mỗi khi thủy triều xuống, nơi đây nổi lên một doi cát dài uốn lượn, được ví von như hình dáng đuôi rồng. Tựa như bao đời nay, doi cát vẫn hiên ngang trường tồn, như một sự khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của đất nước.

Ai đến Sa Vĩ cũng sẽ chụp hình checkin cùng cột mốc ghi thông tin: Từ Trà Cổ đến mũi Cà Mau 3.260 km. Ngay cạnh cột mốc này là bức phù điêu ghi câu thơ “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước” (“Vui thế hôm nay” – Tố Hữu). Mình chưa đến mũi Cà Mau, nhưng chuyến đi này đã có cơ hội đặt chân đến điểm bắt đầu đường bờ biển.



Cách cột mốc này không xa là cụm thông tin cổ động biên giới Sa Vĩ – một điểm du lịch có thu phí. Điểm nhấn của công trình là khu vực trung tâm mang hình tượng cây dương. Loài cây này từ bao đời qua đã đứng trước gió mưa vững chãi bảo vệ Trà Cổ, nên nó được xem như đại diện cho sự bền bỉ và trường tồn của mảnh đất và con người nơi đây.

Thật sự là công trình này khá rộng nhưng chấm điểm được mỗi cái cụm cây dương vì đứng trên đỉnh phóng tầm mắt ra xa có thể nhìn thấy cột mốc 1378 giữa sông Bắc Luân – cột mốc cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của đường biên giới giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc (bắt đầu từ A Pa Chải – Điện Biên – nơi mình vẫn ước ao được đến). Một cột mốc nhỏ bé, thậm chí khó nhìn thấy giữa mênh mông sóng nước vào một ngày trời mù mịt nhưng tôi hiểu rằng để dựng lên cột mốc ấy và gìn giữ đến bây giờ chưa bao giờ là dễ dàng. Mốc này không tự đi ra được, thứ nhất vì nó nằm giữa sông, thứ hai cũng vì nó nằm giữa sông, lớ ngớ là vượt biên lúc nào không biết nên mấy chú biên phòng canh kỹ lắm.

Xa xa có cái cục sơn đỏ trắng chính là mốc 1378

À, nói thêm vì sao mình lại chê cái công trình này vì tổng thể kiến trúc của nó rất xấu, dựng lên những cái tiểu cảnh giả, trang trí màu mè để khách đến chụp hình. Nhưng mà vẫn sẽ có người chụp nhé, chỉ là mình nghĩ người ta có thể làm đẹp hơn, tốt hơn đối với một công trình mang ý nghĩa biểu trưng, nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió biên cương thế này.

Rời Sa Vĩ, tôi ghé thăm đình Trà Cổ – ngôi đền có tuổi đời gần 600 năm. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đình Trà Cổ vẫn đứng vững sừng sững, biểu trưng văn hóa Việt nơi biên ải.

Gặp ông Nguyễn Quang Cảnh, thành viên Ban Quản lý di tích đình Trà Cổ, tôi có dịp nghe nhiều câu chuyện thú vị về ngôi đình làng thân thuộc với bao thế hệ người dân nơi đây. Theo lời ông Cảnh, ngôi đình có từ thời vua Lê Thánh Tông, do những ngư dân từ Đồ Sơn sang đây khai khẩn đất đai lập nên. Chính vì vậy mà dân gian vẫn lưu truyền câu nói “Làng Trà Cổ, tổ Đồ Sơn” với ý nhắc nhở con cháu rằng tổ tiên của họ quê ở Đồ Sơn. Một điểm đặc biệt là toàn bộ công trình được dựng lên bằng sự liên kết khung gỗ và liên kết với nhau bởi các chốt mộng – giống như cách người ta làm nhà gỗ. Ngôi đình là một kiến trúc cổ bề thế, mái lợp ngói vẩy, bốn góc đao cong vút như con thuyền rẽ sóng ra khơi. Bên trong ngôi đến, ông Cảnh còn chỉ cho tôi xem những bức hoành biển đề chữ “Địa cửu thiên trường”, có nghĩa là mảnh đất này sẽ tồn tại lâu đời với trời đất. Hay bức hoành ghi chữ “Dân đức quy hậu” với ý nghĩa người dân nơi đây sẽ được hưởng thịnh vượng muôn đời. Tại đình còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như 12 sắc phong chất liệu giấy từ triều Nguyễn được bảo quản như kho báu, kể cả chúng tôi đi quay phim cũng không có cơ hội được chiêm ngưỡng.

Thú vị nhất trong lời kể của ông Cảnh là lễ hội đình Trà Cổ diễn ra từ 30/5 đến 3/6 âm lịch hằng năm. Trong đó có hội thi ông Voi, thực ra chính là nuôi heo. Mỗi năm làng sẽ chọn ra 12 cai đám – là 12 nam nhân xuất chúng nhất rồi phát cho 12 chú heo để nuôi dưỡng chăm sóc cẩn thận. Đến lễ hội thì 12 ông Voi này được rước ra đình làm lễ, cân đo bầu quán quân khỏe đẹp nhất để mổ tế thần (?). Mình có xem hình ảnh thì thấy lễ hội này đúng là rất quy mô.

Đình Trà Cổ cũng chính là nơi tức cảnh sinh tình để nhạc sĩ Nguyễn Cường sáng tác ca khúc Mái đình làng biển.

Những thăng trầm thời gian
Đã ghi tạc hình dáng
Nét chạm trổ phượng long
Uốn lượn tựa mây sóng

Bác Cảnh cũng biết về câu chuyện này, và theo lời bác thì bây giờ người ta muốn đổi tên bài hát thành “Mái đình làng Việt” để mang ý nghĩa đại chúng hơn. Mình thì thích nó cứ là “Mái đình làng biển” thôi. Ý đồ của cô biên tập là sau khi bác Cảnh kể chuyện này thì nhạc sẽ vang lên

“Ơi vút cong mái đình
Ơi nước non ân tình
Hồn Việt Nam như thế
Ứ hah hah, thuở bình minh”

Cùng với loạt hình ảnh flycame, cận nét các chi tiết của đình làng, thật là cinematic, thật là lắng đọng. Nhưng… về nhà anh kỹ thuật hỏi có bản quyền không em, tỉnh cả người, tan hoang cả nghệ thuật =)))

Lịch trình tiếp theo của bọn mình là ra biển Trà Cổ nhưng mà thần biển không độ cô gái núi, ra đến biển thì mù mịt, cát đen thui như biển Cần Giờ nên ngậm ngùi lướt nhanh qua đoạn này bằng những từ ngữ chung chung như nên thơ, trữ tình…

Cũng may vớt vát lại được đảo Vĩnh Thực – một hòn đảo cách trung tâm TP Móng Cái khoảng 20 km về phía Nam. Từ Mũi Ngọc, chỉ mất khoảng 15 phút di chuyển bằng ca nô để đến với hòn đảo vẫn giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ và ghé thăm ngọn hải đăng Vĩnh Thực. Có một sự thật rất thú vị về hòn đảo này đó là khi nước rút chúng ta có thể … lội bộ ra đảo, chắc có bơi chút chút nhưng nói thật chưa bao giờ tôi chứng kiến cảnh nước rút xa bờ ngoạn mục như thế, suýt thì cano không có đường băng qua những lạch nước nhỏ bé đã bị cát bao vây.

Cập bến Vĩnh Thực, anh em đang nhanh nhẹn lôi đồ nghề ra tác nghiệp thì tuýt – một anh lính biên phòng từ đâu chạy ra đề nghị tất cả giữ nguyên vị trí, ai là người đại diện mời theo chúng tui về đồn. Rồi trong khi nhị vị trưởng đoàn được mời về đồn thì cả đám ngóc mỏ ngồi đoán già đoán non là chuyến này xôi hỏng bỏng không rồi, biết quay gì thay thế đây??? Nhưng cũng may là tầm nửa tiếng các chú biên phòng thả người, còn tận tình cho xe chở vô hải đăng, cử theo một chú bên Văn hóa thông tin của xã đi theo hỗ trợ.

Vĩnh Thực mới phát triển du lịch thời gian gần đây, nghe kể ra thì nhiều điểm tham quan, nào là bãi Đầu Đông, bãi Bến Hèn, làng bích họa… nhưng mình nghĩ điểm cộng lớn nhất chính là hòn đảo này rất nhiều màu xanh, nhiều thông giống như Đà Lạt, nhiều sim (lúc mình đi chưa đến mùa). Nếu có thể thì thuê cái xe máy chạy vòng quanh đảo, thích đâu dừng đó là tuyệt nhất rồi. Bọn mình thì đến thẳng hải đăng Vĩnh Thực.

Hải đăng Vĩnh Thực nằm sừng sững trên đỉnh núi Đầu Tán được xây dựng từ năm 1962 theo lối kiến trúc Pháp cổ. Hải đăng Vĩnh Thực được biết đến là ngọn đèn biển ở vị trí đầu tiên trong số hơn 90 ngọn hải đăng trải dài trên dải đất hình chữ S. Công trình được ví như “con mắt biển Đông”, ngày đêm thắp sáng để dẫn đường, báo hiệu cho tàu thuyền qua lại trong khu vực.

Đứng trên đỉnh hải đăng, với chiếc ống nhòm mượn được của anh nhân viên gác đèn, mình được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên với một bên ở rất xa là mũi Sa Vĩ. Với một vị trí rất cao tính từ chân móng lên đỉnh tháp đèn là 18 m, cầu thang gỗ xoắn ốc, chiều cao tháp đèn tính từ mặt nước biển lên đỉnh tháp là 86 m thì từ ngoài khơi xa, mọi tàu thuyền đều có thể được hải đăng Vĩnh Thực dẫn đường.

Trò chuyện với anh nhân viên gác hải đăng người Thái Bình thì được biết “đặc sản” nơi đây là nắng và gió: mùa hè thì nắng cháy da, mùa đông, gió lạnh thổi thấu xương. Không hiểu sao mình quên mất tên anh ấy, chỉ nhớ là một người trầm tính nhưng rất nhiệt tình, niềm nở “Tầm tháng 4 trở đi là bắt đầu thiếu nước, rửa rau xong là anh em phải trữ nước để dành tưới cây. Trạm mới trang bị thêm bồn chứa nước nhưng vẫn không đủ sinh hoạt”. Khó khăn là thế nhưng cán bộ, nhân viên ở đây vẫn kiên trì gắn bó với công việc, giữ cho ngọn hải đăng luôn sáng góp phần giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Đi công tác thì niềm vui nhất là sau một ngày đi quay như trâu chóa, thay vì nằm dài trong phòng hay ngâm bồn tắm nghe nhạc thì tui có thể tự do hành xác bản thân bằng những thú vui như vẫn thường làm: đi bộ. Đi xem một cái gì đó định sẵn, hoặc chả có chủ đích gì, thích đâu tạt đó.

Như chiều hôm ấy, chẳng có khứa nào hứng thú bộ môn đi bộ hao sức nên mình đi một mình ra hướng cửa khẩu. Cửa khâu to vật các ông ạ, nhưng cũng không sôi động mấy đâu, chủ yếu mấy chị đi đánh hàng trong ngày, sức người vác hết. Gần đó là mấy khu chợ, chợ nào cũng xây to to kiểu trung tâm thương mại nhưng buôn bán thì lèo tèo lắm, nghe nói là ảnh hưởng sau dịch mãi chưa phục hồi.

Mình đi bộ một mình ra đến cầu Ka Long – cây cầu bằng đá được thiết kế bởi một nữ kiến trúc sư người Pháp, do công nhân Trung Quốc và Việt Nam thi công xây dựng từ những năm 1950; đến năm 1965 thì hoàn thành. Đây là cây cầu duy nhất ở Việt Nam được xây dựng hoàn toàn bằng đá, không dùng chất kết dính như xi măng vôi vữa, mà chỉ sử dụng những phiến đá lớn nhỏ ghép lại với nhau.

Trên đường quay lại khách sạn, mình ghé qua một khu chợ nhỏ nhưng đông đúc gần đó. Chợ chiều bán mấy món nướng mùi thơm không cưỡng lại được. Cũng có một dãy toàn các bà già mang vài bó rau nhà trồng ra bán, đúng kiểu chợ ở quê. Mình chỉ ăn một xiên thịt nướng này thôi nhưng rất ngon.

Công tác miền bắc vẫn chưa bao giờ khiến mình thôi bất ngờ vì những bàn tiệc toàn… thịt. Biết là đi làm mệt cần ăn nhiều, nhưng mà mình không nghĩ nhiều đến vậy, bữa nào cũng 6-7 món, không ăn thì phí, ăn thì mập. Như món khâu nhục này mình không còn bụng để thử. Hay như món canh – súp quên mất tên này thì ngon mà… ít.

Lịch trình công tác tạm xong, ngày hôm sau bọn mình sẽ có chuyến đi Đông Hưng – Trung Quốc tour trong ngày.

Cũng đã lâu lắm rồi mới ngoi lên viết bài về chuyến đi trên blog, nhân tiện khoe với các bạn là mình mua lại gói blog rồi, tên miền Chuyện kể từ những chuyến đi cũng hồi sinh nhờ một người lạ tốt bụng. Cuộc sống viết bài up hình phủ phê lại bắt đầu, và hi vọng mình siêng năng.

Gửi phản hồi